Xác định tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng?

Anh Phạm Quang V có đặt câu hỏi như sau:
Tôi mua một mảnh đất giá 1 tỷ 700 triệu đồng vào năm 2020, đó là tiền của riêng cá nhân tôi kiếm được, có ra văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng. Tháng 3/2021, tôi kết hôn nhưng vì một lý do khách quan nào đó mà đến tháng 6/2021 tôi mới làm được thủ tục cấp sổ, trên sổ chỉ đứng tên mình tôi. Nay do mâu thuẫn nên vợ chồng tôi quyết định ly hôn. Xin hỏi tài sản đó được coi là tài sản riêng của tôi hay không?
Cảm ơn anh V đã đặt câu hỏi cho “Luật sư riêng của anh”. Chúng tôi có những thông tin trao đổi như sau:
Xét thời điểm anh V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sau khi anh V đã đăng ký kết hôn hợp pháp với vợ. Đồng thời, vợ, chồng anh không có thỏa thuận về việc tài sản này là tài sản riêng của anh. Vì vậy, quyền sử dụng đất này là tài sản chung của vợ chồng, theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.”
Ngược lại, nếu anh V muốn chứng minh quyền sử dụng đất này là tài sản riêng của anh, thì anh có nghĩa vụ chứng minh, qua các tài liệu như sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Giấy biên nhận tiền, hoặc sao kê ngân hàng cùng các giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng, theo Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”


Trên đây là những ý kiến tư vấn của Luật sư cho trường hợp của anh, hi vọng ý kiến của chúng tôi sẽ hữu ích cho anh. Trường hợp cần tư vấn chuyên sâu và cụ thể hơn, anh vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua số điện thoại 0965.773.6220855.667.666 hoặc đến Văn phòng của chúng tôi tại: Số 12 Trần Nhân Tông, Khu phố 3, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.